Bộ Công Thương đã thành lập Đoàn kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2019 của EVN (Đoàn kiểm tra) bao gồm đại diện các cơ quan: Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Hội Điện lực Việt Nam, Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Trong quá trình kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2019, các nguyên tắc đã được Đoàn kiểm tra sử dụng để phân tách và kiểm tra các thành phần chi phí gồm có: Báo cáo chi phí và giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2019 của EVN do kiểm toán độc lập (Công ty TNHH Deloitte Việt Nam) kiểm toán; báo cáo tài chính hợp nhất năm 2019 sau kiểm toán của EVN, báo cáo tài chính do đơn vị kiểm toán độc lập kiểm toán của Công ty mẹ EVN và các đơn vị thành viên; hợp đồng mua bán điện giữa EVN và các đơn vị phát điện...

Kết quả kiểm tra cho thấy, tổng chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2019 là 387.828,78 tỷ đồng trong đó bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh điện của các khâu phát điện, truyền tải điện, phân phối - bán lẻ điện và phụ trợ - quản lý ngành. Giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2019 là 1.848,85 đ/kWh, tăng 7,03% so với năm 2018.

Báo cáo cũng chỉ ra rằng, các khoản thu của EVN và các đơn vị thành viên từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định và vật tư thu hồi, thu nhập từ hoạt động cho thuê cột điện, cho thuê nhà khu nhà ở, nhà quản lý vận hành của các dự án nguồn điện của EVN đã được giảm trừ vào chi phí sản xuất kinh doanh của EVN và các đơn vị thành viên.

leftcenterrightdel
Bộ Công Thương. Ảnh minh họa 

Đi sâu vào kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh ở từng khâu, Đoàn kiểm tra thấy tổng chi phí khâu phát điện là 309.866,81 tỷ đồng, tương ứng với giá thành khâu phát điện theo điện thương phẩm là 1.477,19 đ/kWh. So với năm 2018, chi phí khâu phát điện năm 2019 tăng do một số yếu tố sau:

Trong năm 2019, tổng lượng nước về hồ chứa thủy điện đạt khoảng 237,4 tỷ m3, thấp hơn khoảng 128 tỷ m3 so với năm 2018, do đó, sản lượng điện từ thủy điện năm 2019 thấp hơn năm 2018, sản lượng điện huy động từ các nguồn điện khác như nhiệt điện than, khí và đặc biệt là dầu, năng lượng tái tạo (mặt trời) cao hơn so với 2018.

Cũng trong năm này, giá than trong nước được điều chỉnh tăng 02 lần, do Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Tổng Công ty Đông Bắc thực hiện cung cấp than pha trộn giữa than trong nước và than nhập khẩu có giá than cao hơn giá than trong nước, điều này đã tác động đến chi phí mua điện hầu hết các nhà máy nhiệt điện than của các Tổng công ty phát điện 1,2, 3, Báo cáo kiểm tra nêu rõ.

Ngoài ra giá dầu Mazut (FO) bình quân năm 2019 cũng tăng 0,9% so với năm 2018, điều này đã đã ảnh hưởng đến chi phí khi huy động các nhà máy nhiệt điện chạy dầu như Thủ Đức, Cần Thơ và Ô Môn.

Tiến hành kiểm tra giá khí, Đoàn kiểm tra nhận thấy, từ ngày 20/3/2019, các nhà máy điện sử dụng khí Nam Côn Sơn trong bao tiêu thực hiện giá khí theo thị trường có giá khí cao hơn nhiều so với giá khí Nam Côn Sơn trong bao tiêu làm chi phí mua điện từ các nhà máy này tăng nhiều so với trước. Cụ thể, giá khí Thiên Ưng, Đại Hùng tăng 2%/năm theo hợp đồng mua bán khí sẽ tác động đến chi phí mua điện của các nhà máy Phú Mỹ EVN, Nhơn Trạch 1&2 và Bà Rịa.

Tỷ giá cũng được xác định là nguyên nhân góp phần làm tăng chi phí sản xuất đối với các nguồn điện có giá mua điện theo hợp đồng bằng USD hoặc giá mua nhiên liệu bằng USD như nhà máy thủy điện Cần Đơn, các nhà máy nhiệt điện khí, nhiệt điện than sử dụng than nhập khẩu. Trong năm 2019 tỷ giá đô la Mỹ bình quân tăng khoảng 0,97% so với năm 2018.

Bên cạnh đó, các khoản thuế, phí và tiền phải nộp theo quy định cũng tăng, như chi phí thuế tài nguyên nước năm 2019 tăng so với năm 2018 do giá bán lẻ điện bình quân năm 2019 điều chỉnh tăng từ ngày 20/3/2019.

Tổng chi phí khâu truyền tải điện, khâu phân phối - bán lẻ điện, Khâu phụ trợ - quản lý ngành lần lượt là 17.193,92 tỷ đồng, 59.250,17 tỷ đồng, 1.517,88 tỷ đồng, tương ứng với giá thành của từng khâu theo điện thương phẩm là 81,97 đ/kWh, 282,46 đ/kWh, 7,24 đ/kWh. Ngoài ra, còn có một số khoản như tổng chi phí khâu truyền tải điện gồm khoản phân bổ số dư chênh lệch tỷ giá chưa được tính vào giá thành điện tại 31/12/2015 của Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia với giá trị phân bổ năm 2019 là 112,08 tỷ đồng. Và khoản bù giá cho chi phí sản xuất kinh doanh điện tại các xã, huyện đảo nêu trên là 300,75 tỷ đồng.

Liên quan đến doanh thu bán điện và kết quả sản xuất kinh doanh điện 2019 của EVN, Đoàn kiểm tra thấy, sản lượng điện thương phẩm thực hiện năm 2019 là 209,77 tỷ kWh, tăng 9,05% so với năm 2018. Doanh thu bán điện năm 2019 là 388.355,63 tỷ đồng, tăng 16,63% so với năm 2018. Giá bán điện thương phẩm bình quân thực hiện năm 2019 là 1.851,36 đ/kWh, tăng 6,95% so với năm 2018. Doanh thu này đã đem đến cho EVN khoản lãi 523,37 tỷ đồng trong năm 2019, tương ứng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu năm 2019 là  0,35%, Đoàn kiểm tra đánh giá.

Bên cạnh đó, đang còn các khoản chênh lệch tỷ giá đã hạch toán vào giá thành sản xuất kinh doanh năm 2019 như: Chênh lệch tỷ giá thực hiện theo hợp đồng mua bán điện của năm 2017 với số tiền khoảng 2.949,52 tỷ đồng và một phần khoản chênh lệch tỷ giá  năm 2015 còn treo với số tiền khoảng 753,97 tỷ đồng.

Và các khoản chưa hạch toán vào gồm: Khoản chênh lệch tỷ giá năm 2018 với số tiền khoảng 3.716,6 tỷ đồng, khoản chênh lệch tỷ giá theo hợp đồng mua bán điện phát sinh năm 2019 với số tiền khoảng 4.415,8 tỷ đồng, khoản chênh lệch tỷ giá thực hiện theo hợp đồng mua bán điện của các đơn vị phát điện năm 2015 còn treo với số tiền khoảng 1.117,12 tỷ đồng.

Các khoản chênh lệch tỷ giá theo hợp đồng mua bán điện còn treo năm 2015 và 2018 sẽ được xem xét hạch toán vào năm 2020 (phù hợp với Quyết định số 34/2017/QĐ-TTg về khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân giai đoạn 2016-2020), Báo cáo của Đoàn kiểm tra nêu rõ./.

Lan Anh