(GMT+7)
Diễn đàn Thanh tra
Thâm niên nghề: Thông tư hướng dẫn còn nhiều khác biệt với Nghị định?
9:18' 6/9/2010

(Thanhtravietnam.vn) - Trong thực tiễn, hướng dẫn trong Thông tư 04/2009/TTLT-BNV-BTC (Thông tư 04) còn nhiều điều mâu thuẫn và bất cập với Nghị định 76/2009/NĐ-CP (NĐ76). Hệ quả là tính tích cực của NĐ76 trong việc quan tâm, nâng cao đời sống cán bộ công chức, tạo ra động lực hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các ngành đặc thù đã giảm đi khá nhiều.


Ngày 15 tháng 9 năm 2009 Chính phủ ban Nghị định số 76/2009/NĐ-CP (NĐ76) về  việc “sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004”(NĐ204), quy định về phụ cấp thâm niên nghề áp dụng đối với sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp thuộc quân đội nhân dân, sĩ quan và hạ sĩ quan hưởng lương thuộc công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu trong tổ chức cơ yếu và cán bộ, công chức  ngành hải quan, tòa án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự, kiểm lâm, được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Tiếp theo, ngày 24 tháng 12 năm 2009 liên bộ Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 04/2009/TTLT-BNV-BTC (Thông tư 04) hướng dẫn triển khai NĐ76.

Điểm a, Khoản 2 Điều 1 của NĐ76 quy định

a) Phụ cấp thâm niên nghề: Áp dụng đối với sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp thuộc quân đội nhân dân, sĩ quan và hạ sĩ quan hưởng lương thuộc công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu trong tổ chức cơ yếu và cán bộ, công chức đã được xếp lương theo các ngạch hoặc chức danh chuyên ngành: hải quan, toà án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự, kiểm lâm.

Có thể thấy, theo logic hình thức, đối tượng được hưởng thâm niên trong các ngành nói chung và Thanh tra nói riêng là “những cán bộ công chức đã được xếp lương theo các ngạch hoặc chức danh chuyên ngành”. Quy định này được hiểu theo hai cách như sau:

- Là những người đã được xếp lương theo các ngạch công chức hoặc đang giữ các chức danh chuyên ngành.(1)

- Là những người đã được xếp lương theo ngạch chuyên ngành hoặc đang giữ các chức danh chuyên ngành (2). Thông tư 04 triển khai theo cách hiểu này.

 (1) Theo NĐ204, không kể ngạch Chuyên gia, công chức nói chung có các ngạch như ngạch Chuyên viên (gồm CV, CV Chính, CV Cao cấp), ngạch Cán sự và ngạch Nhân viên (kế toán, văn thư, lái xe…). Tuỳ theo từng chuyên ngành như thanh tra, kiểm lâm, kiểm toán, kiểm tra (bên Đảng), tòa án … còn có các ngạch tương đương như Thanh tra viên (TTV) gồm TTV, TTV chính, TTV cao cấp hoặc Kiểm tra viên (KTV, KTV chính, KTV cao cấp)... Đối với ngành kiểm toán có thêm Kiểm toán dự bị, còn với kiểm lâm còn có cả ngạch Kiểm lâm sơ cấp v.v… Tuy nhiên, do đặc điểm công tác nên ngành Thanh tra luôn tồn tại nhiều ngạch công chức khác nhau để phục vụ nhiệm vụ chính trị chung, có người trực tiếp tham gia công tác Thanh tra, có người làm công tác nghiên cứu, tổ chức hoặc phục vụ…  Ngay trong một cơ quan, thậm chí trong một đoàn thanh tra cũng luôn có sự phối hợp này. Như vậy, hiểu theo cách (1) của NĐ76 sửa đổi, chỉ cần có biên chế chính thức và được xếp ngạch công chức nói chung, nếu đủ thời gian 5 năm sẽ được hưởng chế độ thâm niên ngành. Xin nhấn mạnh, hàng vạn cán bộ công chức trong 7 ngành đặc thù nói chung và TTCP nói riêng đều có nguyện vọng nên thực hiện NĐ76 theo hướng này.

Cũng có ý kiến cho rằng không thể vì trong điểm a, Khoản 2, Điều 1, NĐ76 thiếu từ chuyên ngành  tiếp sau từ ngạch nên "bắt bẻ" phải hiểu theo cách (1). Rằng nếu vậy thì trong quy định nói trên của NĐ76 cũng không cần phải nêu thêm các chức danh chuyên ngành bởi nhóm đối tượng này mặc nhiên đã là công chức được xếp ngạch rồi. Tuy nhiên, trong thực tế những người đang giữ  chức danh chuyên ngành có thể là công chức đã được xếp ngạch nhưng còn rất nhiều trường hợp họ đang là cán bộ, viên chức hay từ quân đội và công an chuyển sang.

(2) Nếu hiểu theo hướng dẫn của Thông tư 04 thì sẽ xảy ra một số mâu thuãn trong văn bản NĐ76 đối với một số ngành đặc thù. Lấy ví dụ đối với ngành Thanh tra: Khoản 2, Điều 14 Luật Thanh tra (2004) ghi rõ: “Thanh tra Chính phủ có Tổng Thanh tra, Phó Tổng Thanh tra và Thanh tra viên”. (Ở cấp tỉnh, huyện, bộ, sở có các chức danh tương tự là chánh thanh tra, phó chánh  thanh tra và thanh tra viên). Có thể thấy vế sau của cụm từ “hoặc giữ chức danh chuyên ngành” trong NĐ76 chính là để chỉ nhóm đối tượng này. Vì thanh tra viên thực chất cũng là một chức danh (trước năm 1992 khi chưa có quy định bổ nhiệm TTV, trong các văn bản chính thức ta thường gọi nhóm đối tượng này là cán bộ thanh tra hoặc thanh tra viên). Như vậy đối với ngành Thanh tra, nếu hiểu theo hướng dẫn của Thông tư 04 thì NĐ76 chỉ cần viết: “…những cán bộ công chức đã được xếp lương theo các chức danh chuyên ngành…” là đủ. Nói như vậy để thấy rằng giữa NĐ76 của Chính phủ (là văn bản luật phải mang tính bao quát chung đối với nhiều ngành nghề) và hướng dẫn của Thông tư 04 (đối với từng chuyên ngành) ít nhiều đang có độ “lệch pha” ?

Ảnh minh họa: Đất Việt


Trong thực tiễn, hướng dẫn trong Thông tư 04 còn nhiều điều mâu thuẫn và bất cập khác ảnh hưởng đến tâm tư và quyền lợi của nhiều người. Hệ quả là tính tích cực của NĐ76 trong việc quan tâm, nâng cao đời sống cán bộ công chức, tạo ra động lực hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các ngành đặc thù đã giảm đi khá nhiều. Chúng tôi chưa có số liệu thống kê chung của 7 ngành nghề liên quan, song theo tác giả Thái Sinh (Diễn đàn thanh tra ngày 30/8/2010, Thanhtravietnam.vn - P.V) thì ngành Thanh tra hiện có khoảng 5000 cán bộ công chức (trên 53%) không được hưởng chế độ thâm niên ngành. Những người đã công tác lâu năm trong ngành, cũng làm nhiệm vụ như TTV nhưng do điều kiện về bằng cấp, chứng chỉ không đủ điều kiện để bổ nhiệm TTV (do quy trình chặt chẽ theo quy định) dẫn đến so bì mặc cảm thiệt thòi, giảm sút chất lượng công tác. Tác giả còn nêu ví dụ về sự thiếu công bằng về thời gian hưởng thâm niên giữa các ngành với nhau (đối tượng tập sự của TTCP chậm 2 năm so với ngành tòa án).

Cũng chính vì quan niệm “ngạch thâm niên” như trên nên đã có cách thực hiện máy móc NĐ76, gây phiền toái và ảnh hưởng đến quyền lợi cán bô công chức. Cũng trong điểm a, Khoản 2, Điều 1 NĐ76 quy đinh: “ Sau 5 năm (đủ 60 tháng) tại ngũ hoặc làm việc liên tục trong ngành cơ yếu, hải quan, toà án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự, kiểm lâm thì được hưởng phụ cấp thâm niên nghề bằng 5% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có); từ năm thứ sáu trở đi mỗi năm được tính thêm 1%.”.  NĐ76 quy định như thế nhưng do tư duy “phải là TTV mới được tính thâm niên nghề” nên nhiều người bị cắt xén thời gian thâm niên làm việc liên tục trong ngành đáng ra công chức phải được hưởng. Rất nhiều người công tác liên tục trong ngành thanh tra nhưng do năm 1992 TTCP mới quy định bổ nhiệm ngạch thanh tra theo Pháp lệnh Thanh tra nên “bỗng dưng” bị mất hàng chục năm thâm niên trước năm 1992. Đây là một trong những bất cập cần phải được cơ quan chức năng xem xét, sửa đổi.

Có một hiện trạng nữa mà Thông tư 04 hướng dẫn có tính chất phân biệt đến vô lý: Ví dụ một trung tá quân đội hoặc công an có 20 năm thâm niên, đã chuyển ngành về TTCP được 2 năm. Theo NĐ76, họ là đối tượng được hưởng ngay thâm niên nghề 22%/tháng (gồm 20% (quân đội)+ 2% (TTCP) và mỗi năm tiếp theo được cộng thêm 1%. Nhưng do chưa được bổ nhiệm TTV hoặc đã được bổ nhiệm nhưng chưa đủ 5 năm nên họ phải chờ để được cộng dồn thâm niên nghề. Và nếu sau 6 năm 01 tháng vị cán bộ này về hưu, được cộng dồn 25% thâm niên (trừ 1 năm bổ nhiệm TTV), đáng lẽ thâm niên bình quân tại thời điểm nghỉ hưu để tính bảo hiểm xã hội là 23%/tháng (21+22+23+24+25) rồi chia đều cho 5 năm) thì thâm niên bình quân thực tế chỉ còn 0,41%/tháng (lấy 25% thâm niên mới được hưởng 1 tháng cuối chia đều cho 60 tháng (5 năm cuối). Một con số quá chênh lệch! Tất nhiên còn có cách tính thâm niên khác dành cho quân nhân chuyển ngành nhưng dù cách nào thì người hưởng vẫn bị thiệt thòi. Vấn đề là hiện nay  do yêu cầu nhiệm vụ, nhiều cán bộ cao cấp trong ngành kiểm tra hoặc trong quân đội, công an và kiểm toán có thâm niên cao được trên điều động về TTCP, nếu cứ theo cách  tính  trên thì họ đều trở thành “tân binh” trong vấn đề hưởng chính sách thâm niên nghề! Quy định của Thông tư 04 cũng mâu thuẫn với Luật Sĩ quan QĐND và Luật CAND, không chỉ ảnh hưởng quyền lợi của công chức mà còn gây rắc rối cho cơ quan kế toán và bảo hiểm trong việc thực hiện các chế độ chính sách khác.

Cần khẳng định rằng NĐ76 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ204 về chế độ thâm niên tiền lương đối với lực lượng vũ trang và  cán bộ, công chức là một sự quan tâm, khích lệ to lớn của Đảng và Nhà nước đối với các ngành nghề có tính đặc thù. Tuy nhiên rất nhiều ý kiên cho rằng việc quy định hưởng chế độ thâm niên nghề trong Thông tư 04 là quá khu biệt so với tinh thần NĐ76. Do đó, thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần có sự xem xét sửa đổi cho phù hợp hơn với thực tiễn./.

 

Phạm Minh Mẫn

Gửi bài này Gửi bài này In bài này In bài này
Ý kiến bạn đọc
“ Phan Đức Thọ ” (8/12/2010)
  tho.pd31k6dl@yahoo.com.vn
Tại điểm a, Khoản 2, Điều 1 NĐ76 quy đinh: “ Sau 5 năm (đủ 60 tháng) tại ngũ hoặc làm việc liên tục trong ngành cơ yếu, hải quan, toà án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự, kiểm lâm thì được hưởng phụ cấp thâm niên nghề bằng 5% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có); từ năm thứ sáu trở đi mỗi năm được tính thêm 1%.”.
Thiết nghỉ thâm niên nghề được tính từ thời điểm có quyết định tuyển dụng cán bộ công chức, cán bộ công chức đó đương nhiên nhiên được hưởng phụ cấp thâm niên. TT 04 hiểu quá máy móc, những người không phải là thanh tra viên thì không được hưởng thâm niên nghề thì đây là một điều hết sức vô lý. Đặc biệt cán bộ công chức làm việc trong ngành thanh tra cấp huyện ở vùng sâu vùng xa do điều kiện nào đó mà họ chưa đủ điều kiện để bổ nhiệm thanh tra viên, nhưng họ đã cống hiến một thời gian dai cho ngành nhưng không được hưởng chế độ đung theo NDD76.
Từ những bất cập của TT 04 kính đề nghị Thanh tra Chính phủ kịp thời có hướng sửa đổi bổ sung cho phù hợp để mọi người đều được hướng quyền lợi như nhau, đúng theo NĐ 76 của Chính phủ.
“ Nguyễn Mão Đông ” (20/10/2010)
  nguyenmaodong@gmail.com
Rất đồng ý với ý kiến tác giả Phạm Minh Mẫn nêu ra trong bài viết này.
Hướng dẫn tại Thông tư số 04/2009/TTLT-BNV-BTC không đúng tinh thần, nội dung quy định tại Nghị định số 76/2009/NĐ-CP. Ngoài ra, nó còn làm mất đi tính chất, ý nghĩa của khoản phụ cấp này và vấn đề quan trọng nhất là hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn công tác của CBCC.
Thông tư số 04/2009/TTLT-BNV-BTC đang tạo ra những khác biệt đến vô lý và chưa giải quyết thỏa đáng những tồn tại từ thực tiễn công tác tuyển dụng, quản lý, bổ nhiệm CBCC hiện nay.
“ Lê Bá Phước ” (11/10/2010)
  baphuoc@longan.gov.vn
Rất đồng ý với việc tính thâm niên từ khi vào ngành chính thức, như vậy sẽ thực tế, vào ngành có quyết định vào biên chế chính thức là cơ sở để tính thời điểm thâm niên.
Hy vọng Thanh tra Chính phủ quan tâm sửa đổi, bổ sung để anh em lâu năm trong trong phấn khởi.
Thanh tra Long An
“ Nguyen Van Phuoc ” (24/9/2010)
  vanphuoc82@yahoo.com
Qua đọc bài viết trên của tác giả Phạm Minh Mẫn, tôi rất đồng tình với phân tích trên. Tôi nghĩ khi cán bộ soan ra Thông tư 04 nhưng cũng chưa hiểu nhiều về ngành Thanh tra. Đúng ra từ trước 1992 là Ngành chúng ta đã hoạt động rất nhiều (Cần vào trang Thanh tra Chinh phủ để xem) và đạt thành quả lớn của Ngành.

Thật ra đến nay cũng không còn nhiều cán bộ vào ngành Thanh tra từ 1975 để phục vụ cho đến bây giờ (phần nhiều đã chuyển ngành khác), nên số cán bộ còn lại không nhiều và chế độ hưởng thâm niên ngành cũng không lơn, so với hoạt đông mỗi năm thu lại nhiều để nộp cho Ngân sách đối với các khoản sai phạm sau moi đợt thanh tra. Thông tư 04 chỉ dựa vào thời điểm năm 1992 để tình thâm niên là không đúng nghĩa về "thâm niên". Theo tôi phải lấy móc thời điêm từ khi có quyết định chính thức vào phục vụ cho ngành thanh tra và phục vụ cho đến nay là chính xác với nghĩa về "thâm niên". ngành.

Trên đây là một ý nhỏ để ủng hộ bài viết của tác giả Phạm Minh Mẫn và đề nghị lãnh đạo ngành Thanh tra xem xét vệ nội dung này, để nhằm khuyến khích một số cán bộ đã phục vụ lâu năm đối với ngành thanh tra cho đên nay
Trang1
Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY
   
 
 
Các bài mới
Cần nâng cao vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra   (20/10/2010)  
Những hạn chế của pháp luật về khiếu nại hành chính trong xây dựng Nhà nước pháp quyền   (18/10/2010)  
Nghĩa vụ chứng minh trong vụ việc tranh chấp hành chính thuộc về ai?   (14/10/2010)  
Về công khai, minh bạch trong việc giải quyết khiếu nại   (11/10/2010)  
Mấy góp ý vào dự thảo Luật Thanh tra sửa đổi   (8/10/2010)  
Mấy góp ý về sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra và Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo   (7/10/2010)  
Một vài vấn đề trao đổi trong thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo   (4/10/2010)  
Đơn thư khiếu nại dai dẳng, kéo dài,... liệu có phải là tất yếu?   (27/9/2010)  
Một số vấn đề cần điều chỉnh khi xây dưng Luật khiếu nại và Luật tố cáo   (21/9/2010)  
Thanh tra - quyền kiểm soát quyền lực của bộ máy hành pháp   (14/9/2010)  
Các bài đã đăng
Xử lý hành vi vi phạm quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo - khó khăn trong thực tiễn áp dụng   (1/9/2010)
Cần có quy định về thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại   (23/8/2010)
Những bất cập trong các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo   (18/8/2010)
Lại thêm một bất cập trong cơ chế giải quyết khiếu nại   (9/8/2010)
Cần phải sửa quy định về phạm vi thẩm quyền thanh tra?   (3/8/2010)
Đôi điều rút ra qua thực hiện chuyển đổi vị trí công tác để phòng ngừa tham nhũng ở Đồng Nai   (28/7/2010)
Bàn thêm về tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết khiếu nại   (22/7/2010)
Nhiều bất cập trong triển khai thực hiện chế độ thâm niên nghề thanh tra   (15/7/2010)
Tạm đình chỉ và đình chỉ việc giải quyết khiếu nại - bao giờ Luật mới quy định?   (8/7/2010)
Còn giới hạn về ủy quyền trong giải quyết khiếu nại hành chính?   (25/6/2010)
Xem theo ngày tháng / / Xem tiếp
Tiêu điểm
Nhu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Một số bất cập trong quy định của Luật Cán bộ, công chức về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức
Tăng cường sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước cấp địa phương ở Việt Nam
Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định văn bản QPPL của Bộ Tư pháp
Xây dựng Nghị định giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với DNNN, DN có vốn nhà nước: Tránh chồng chéo, trùng lắp
Bàn về việc thành lập phòng giám sát, kiểm tra, xử lý sau thanh tra ở cơ quan thanh tra cấp tỉnh hiện nay
Thực hiện Kế hoạch 1130/KH-TTCP: Góc nhìn từ các địa phương
Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính
Cơ sở của việc quy định chính quyền đô thị trong Hiến pháp 1992
Hoạt động thanh tra hành chính góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Để nâng cao hiệu quả hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra
Việc thực hiện một số quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng
Bàn về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của cơ quan hành chính nhà nước
Bàn về thẩm quyền chứng thực của Phòng Tư pháp cấp huyện
Góp ý dự thảo Luật Đất đai sửa đổi: Cần thống nhất trong xử lý các hành vi lấn, chiếm đất
Đôi điều trao đổi về nhiệm vụ của Thư ký đoàn thanh tra trong hoạt động thanh tra hành chính của lực lượng CAND.
Về đối thoại trong quy trình giải quyết khiếu nại
Nội luật hóa các điều khoản bắt buộc của Công ước Phòng chống tham nhũng trong BLHS – vấn đề còn nhiều thách thức
Một số vướng mắc trong thực hiện các quy định của Luật Thanh tra về thanh tra chuyên ngành
Bàn về khái niệm kiểm tra và một số khái niệm liên quan đến kiểm tra
Xem nhiều nhất
Bàn về một số hạn chế của Luật Doanh nghiệp năm 2005
Bàn về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của cơ quan hành chính nhà nước
Bàn về khái niệm kiểm tra và một số khái niệm liên quan đến kiểm tra
Nâng cao hiệu quả thanh tra thuế góp phần tăng thu ngân sách nhà nước
Vai trò và ý nghĩa của kết quả hoạt động thanh tra tới các hoạt động kinh tế - xã hội