Thị xã Bỉm Sơn cách thành phố Thanh Hoá 34 km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 120 km về phía Bắc. Bỉm Sơn là vùng đất có địa hình thấp dần từ Tây sang Đông. Tuy diện tích không rộng nhưng Bỉm Sơn vừa có vùng đồng bằng, vùng núi đá, vùng đồi và sông suối.Vùng đồi núi kéo dài từ Tây Bắc đến Bắc Đông Bắc với diện tích 5.097,12ha, vùng đồng bằng có diện tích 1.518,98ha; núi đá có đặc điểm của những sa thạch là đá rát, đá phiến sét và xen kẽ những mạch đá vôi chìm nổi, vùng đồng bằng thuận tiện cho phát triển nông nghiệp và cũng là diện tích đất dự trữ cho phát triển đô thị.

Thị xã Bỉm Sơn có nhiều tiềm năng to lớn, đặc biệt là tiềm năng khoáng sản phục vụ công nghiệp xây dựng. Diện tích mỏ đá ở Bỉm Sơn có tới 1.052,730 ha chiếm khoảng 15,9% tổng diện tích tự nhiên. Trữ lượng đá vôi ở Bỉm Sơn dự báo có tới vài tỷ mét khối; lượng đá vôi đã thăm dò là hơn 600 triệu m3. Nguồn nước ngầm trong lòng đất Bỉm Sơn đã được Đoàn địa chất 47 thăm dò xác định thuộc dạng nước ngầm cáctơ, trữ lượng khá phong phú để phục vụ cho sản xuất công nghiệp.

Do phần lớn diện tích đất đồi nên Bỉm Sơn có ưu thế mạnh về phát triển lâm nghiệp, trồng rừng, cũng là lợi thế cho phát tiển đô thị và phát triển công nghiệp. Diện tích đất lâm nghiệp ở Bỉm Sơn là: 1.264,17 ha. Toàn thị xã có 1.264,17 ha đất rừng sản xuất. Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 13,1%; Cơ cấu các ngành kinh tế trong giá trị sản xuất đến năm 2020: Công nghiệp - xây dựng: 72,9%; Dịch vụ - Thương mại: 26,0%; Nông, lâm, thủy sản: 1,1%.

Sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm 7.000 tấn; Tổng giá trị xuất khẩu năm 2020: 210 triệu USD, gấp 1,8 lần so với năm 2015. Tổng huy động vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2016 - 2020: 18.143 tỷ đồng, gấp 2,6 lần so thời kỳ 2011 - 2015; Thu nhập bình quân đầu người/năm đến năm 2020: 80,1 triệu đồng, tăng 20% so với năm 2015.

Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm: 1,5% trong đó tăng tự nhiên: 0,27% tăng cơ học: 1,23%. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia năm 2020: 90%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động vào năm 2020: 10%. Tỷ lệ xã, phường đạt tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn II vào năm 2020: 100%. Tỷ lệ làng, khu phố, thôn, xóm được công nhận danh hiệu đơn vị văn hóa đạt 95,3%. Tỷ lệ làng, khu phố, thôn, xóm được công nhận giữ vững danh hiệu đơn vị văn hóa bình quân đạt 75%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đến năm 2020 còn: 8,0%. Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2020 (theo tiêu chí cũ) còn dưới 1%. Tỷ lệ phường đạt kiểu mẫu (đạt chuẩn văn minh đô thị) là 50%.

Hằng năm, TCCS Đảng đạt danh hiệu TSVM từ 80% trở lên, không có TCCS Đảng yếu kém; đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trên 80%; Chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội đạt vững mạnh. Thành lập 5 tổ chức Đảng và 15 tổ chức đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Kết nạp 600 đảng viên trở lên. Thị xã cũng đạt nhiều danh hiệu như: Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới: 01 đơn vị; Huân chương độc lập: 01 đơn vị; Huân chương lao động hạng nhất: 3 đơn vị; Huân chương lao động hạng nhì: 4 đơn vị; Huân chương lao động hạng ba: 13 đơn vị; Huân chương chiến công: 2; Cờ thi đua của Chính phủ: 3; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: 09; Bằng khen của Bộ, cơ quan ngang Bộ: 60; 06 Bà mẹ được tặng và Truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng; 03 Anh hùng Lực lượng vũ trang; 5.056 người được nhà nước khen thưởng có công trong kháng chiến.